Nhà Văn Việt Nam Nổi Tiếng: 30 Tác Giả Tiêu Biểu Qua 4 Giai Đoạn Văn Học

Hình minh họa các tác giả văn học sau 1975 và thời kỳ Đổi mới

Nhà văn Việt Nam nổi tiếng trong bài gồm 30 tác giả tiêu biểu, chia theo bốn giai đoạn là trung đại và giao thời, 1930–1945, 1945–1975 và sau 1975. Danh xưng nhà văn được dùng theo nghĩa rộng, gồm tác giả văn xuôi, nhà thơ và nhà viết kịch. Danh sách chọn theo đóng góp cho văn học sử, mức độ đại diện cho trào lưu hoặc thể loại và độ nhận diện qua giáo dục hoặc giải thưởng, không phải bảng xếp hạng. Mỗi tác giả có năm sinh, năm mất, thể loại sở trường và tác phẩm tiêu biểu để người đọc chọn hướng đọc tiếp.

Bảng tổng hợp 30 nhà văn Việt Nam nổi tiếng và tác phẩm tiêu biểu

Danh sách dưới đây gồm 30 nhà văn Việt Nam nổi tiếng, xếp theo bốn giai đoạn và có đủ năm sinh, năm mất, thể loại sở trường, tác phẩm tiêu biểu. Bảng dùng để tra cứu nhanh, không dùng để xếp hạng.

Infographic bảng tra cứu nhà văn Việt Nam nổi tiếng theo bốn giai đoạn văn học
Bảng tra cứu nhanh năm sinh, năm mất, thể loại và tác phẩm tiêu biểu của 30 tác giả, xếp theo dòng thời gian.

Ba tiêu chí chọn tên gồm đóng góp cho văn học sử, mức độ đại diện cho một trào lưu hoặc thể loại, và độ nhận diện qua chương trình giáo dục hoặc giải thưởng lớn. Từ “nhà văn” ở đây dùng theo nghĩa rộng, gồm tác giả văn xuôi, nhà thơ và nhà viết kịch. Vì vậy nhà văn Việt Nam nổi tiếng trong bảng có cả Nguyễn Du, Nam Cao lẫn Lưu Quang Vũ.

STTTên tác giảNăm sinh–mấtGiai đoạnThể loại sở trườngTác phẩm tiêu biểu
1Nguyễn Trãi1380–1442Trung đạiThơ chữ Hán, thơ Nôm, văn chính luậnBình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập
2Nguyễn Du1765–1820Trung đạiTruyện thơ Nôm, thơ chữ HánTruyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, Thanh Hiên thi tập
3Hồ Xuân Hươngc. 1772–1822Trung đạiThơ NômBánh trôi nước, Tự tình, Quả mít
4Nguyễn Đình Chiểu1822–1888Trung đạiTruyện thơ Nôm, văn tếLục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
5Nguyễn Khuyến1835–1909Giao thời cuối thế kỷ XIXThơ Nôm, thơ chữ HánThu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh
6Tú Xương1870–1907Giao thời cuối thế kỷ XIXThơ Nôm trào phúng, trữ tìnhVịnh khoa thi Hương, Thương vợ, Năm mới chúc nhau
7Xuân Diệu1916–19851930–1945Thơ lãng mạn, tiểu luậnThơ thơ, Gửi hương cho gió, Phấn thông vàng
8Hàn Mặc Tử1912–19401930–1945Thơ tượng trưng, siêu thựcGái quê, Đau thương, Chơi giữa mùa trăng
9Huy Cận1919–20051930–1945Thơ mới, thơ hiện đạiLửa thiêng, Vũ trụ ca, Trời mỗi ngày lại sáng
10Thạch Lam1910–19421930–1945Truyện ngắn trữ tình, tùy bútGió lạnh đầu mùa, Nắng trong vườn, Hà Nội băm sáu phố phường
11Nhất Linh1906–19631930–1945Tiểu thuyết luận đềĐoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng
12Nam Cao1915–19511930–1945Truyện ngắn hiện thực, tiểu thuyếtChí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn
13Vũ Trọng Phụng1912–19391930–1945Tiểu thuyết trào phúng, phóng sựSố đỏ, Giông tố, Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây
14Ngô Tất Tố1894–19541930–1945Tiểu thuyết hiện thực, phóng sựTắt đèn, Việc làng, Lều chõng
15Nguyễn Tuân1910–19871930–1945Tùy bút, truyện ngắnVang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Người lái đò sông Đà
16Tố Hữu1920–20021945–1975Thơ trữ tình chính trịTừ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận
17Tô Hoài1920–20141945–1975Truyện thiếu nhi, ký, hồi kýDế Mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc, Cát bụi chân ai
18Kim Lân1920–20071945–1975Truyện ngắn phong tục, hiện thựcLàng, Vợ nhặt, Con chó xấu xí
19Quang Dũng1921–19881945–1975Thơ lãng mạn kháng chiếnTây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Đôi bờ
20Nguyễn Minh Châu1930–19891945–1975Truyện ngắn, tiểu thuyếtDấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa
21Nguyễn Thi1925–19681945–1975Truyện ngắn, ký chiến tranhNgười mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình
22Chính Hữu1926–20071945–1975Thơ kháng chiếnĐồng chí, Đầu súng trăng treo, Ngọn đèn đứng gác
23Xuân Quỳnh1942–1988Sau 1975Thơ trữ tình hiện đạiTơ tằm chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Tự hát
24Lưu Quang Vũ1948–1988Sau 1975Kịch bản sân khấu, thơHồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9
25Bảo Ninh1952–naySau 1975Tiểu thuyết, truyện ngắnNỗi buồn chiến tranh, Khắc dấu mạn thuyền
26Nguyễn Ngọc Tư1976–naySau 1975Truyện ngắn, tản vănCánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy, Cố định một đám mây
27Nguyễn Nhật Ánh1955–naySau 1975Truyện dài tuổi thơ, thiếu nhiKính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Mắt biếc
28Nguyễn Huy Thiệp1950–2021Sau 1975Truyện ngắn hiện thực huyền ảoTướng về hưu, Muối của rừng, Không có vua
29Ma Văn Kháng1936–naySau 1975Tiểu thuyết, truyện ngắn tâm lý xã hộiMùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú
30Dương Thu Hương1947–naySau 1975Tiểu thuyết hiện thực xã hộiBên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù, Chốn vắng

Cột giai đoạn ghi nơi mỗi nhà văn Việt Nam nổi tiếng có đóng góp đại diện rõ nhất, không giới hạn cả sự nghiệp vào một mốc. Một số người bắt đầu viết trước 1945 hoặc tiếp tục sáng tác sau 1975. Mốc năm của Hồ Xuân Hương là năm ước định, vì tư liệu về bà chưa có con số tuyệt đối chính xác. Với nhà văn Việt Nam nổi tiếng còn sống, bảng ghi “nay” ở năm mất. Thứ tự trong bảng đi theo dòng thời gian, không phản ánh thứ bậc danh tiếng.

Tác giả giai đoạn văn học trung đại và giao thời cuối thế kỷ XIX

Nhóm này gồm sáu cây bút từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX, viết chủ yếu bằng chữ Hán và chữ Nôm. Mỗi giai đoạn văn học sử là một khung để phân loại, nên Nguyễn Khuyến và Tú Xương được xếp vào mốc giao thời cuối thế kỷ XIX. Đây là nhóm đầu tiên khi tìm hiểu nhà văn Việt Nam nổi tiếng qua các thời kỳ.

Chân dung minh họa Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương thời trung đại
Từ Nguyễn Trãi đến Tú Xương, sáu tác giả sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán và chữ Nôm.

Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380–1442), hiệu Ức Trai, là nhà văn Việt Nam nổi tiếng mở đầu danh sách. UNESCO vinh danh ông là danh nhân văn hóa thế giới năm 1980. Ông viết cả thơ chữ Hán, thơ Nôm và văn chính luận. Tác phẩm tiêu biểu gồm Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập.

Nguyễn Du

Nguyễn Du (1765–1820) là nhà văn Việt Nam nổi tiếng với Truyện Kiều, truyện thơ Nôm được đọc rộng rãi nhất trong văn học trung đại. UNESCO vinh danh ông là danh nhân văn hóa thế giới năm 2013. Bên cạnh Truyện Kiều, ông còn có Văn tế thập loại chúng sinh và tập thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tập.

Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là nhà văn Việt Nam nổi tiếng viết thơ Nôm, được UNESCO vinh danh năm 2021. Bài này dùng mốc thời gian 1772–1822, đây là mốc ước lệ của giới nghiên cứu vì chưa có tư liệu xác định tuyệt đối. Các bài như Bánh trôi nước, Tự tình và Quả mít thường được nhắc khi nói về thơ Nôm của bà.

Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888) là tác giả truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên. UNESCO vinh danh ông là danh nhân văn hóa thế giới năm 2021. Ông cũng nổi tiếng với thể văn tế, tiêu biểu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến (1835–1909), được gọi là Tam nguyên Yên Đổ, là đỉnh cao của thơ Nôm viết về làng cảnh Việt Nam. Ông sáng tác cả thơ Nôm lẫn thơ chữ Hán. Ba bài thơ thu gồm Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh là những tác phẩm đại diện.

Tú Xương

Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương (1870–1907), được xem là bậc thầy thơ trào phúng của giai đoạn giao thời. Thơ ông vừa trào phúng vừa trữ tình. Các bài tiêu biểu gồm Vịnh khoa thi Hương, Thương vợ và Năm mới chúc nhau.

Tác giả văn học 1930–1945 thuộc dòng lãng mạn và dòng hiện thực

Giai đoạn 1930–1945 có chín tác giả trong danh sách, thuộc nhiều trào lưu khác nhau. Thơ mới đổi mới thơ ca theo hướng đề cao cái tôi cá nhân. Tự lực văn đoàn là nhóm văn xuôi do Nhất Linh sáng lập. Văn học hiện thực phê phán phản ánh đời sống xã hội đương thời.

Không phải ai cũng thuộc đúng một dòng. Nguyễn Tuân, chẳng hạn, đứng riêng với tùy bút và lối dùng chữ rất đặc biệt. Đây cũng là nơi tập trung nhiều nhà văn Việt Nam nổi tiếng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử và Huy Cận.

Xuân Diệu

Xuân Diệu (1916–1985) được xem là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới. Ông là một trong những nhà văn Việt Nam nổi tiếng nhất của phong trào này, với giọng thơ lãng mạn, nồng nhiệt. Các tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió và Phấn thông vàng là tác phẩm tiêu biểu. Ông còn viết tiểu luận.

Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử (1912–1940) là hiện tượng thơ độc đáo, thuộc dòng tượng trưng và siêu thực của văn học Việt Nam. Ông mất khi còn rất trẻ. Ba tập thơ đại diện là Gái quê, Đau thương và Chơi giữa mùa trăng.

Huy Cận

Huy Cận (1919–2005) là đại diện xuất sắc của phong trào Thơ mới, sau này tiếp tục sáng tác thơ ca kháng chiến. Tên ông thường được nhắc cùng Xuân Diệu khi nói về nhà văn Việt Nam nổi tiếng trước 1945. Lửa thiêng, Vũ trụ ca và Trời mỗi ngày lại sáng là ba tác phẩm tiêu biểu.

Thạch Lam

Thạch Lam (1910–1942) là thành viên Tự Lực văn đoàn, nổi bật với lối viết truyện không có cốt truyện rõ rệt. Ông viết truyện ngắn trữ tình và tùy bút. Gió lạnh đầu mùa, Nắng trong vườn và Hà Nội băm sáu phố phường là những tác phẩm đại diện.

Nhất Linh

Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam (1906–1963), người sáng lập Tự Lực văn đoàn. Sở trường của ông là tiểu thuyết luận đề. Đoạn tuyệt, Đôi bạn và Bướm trắng là những tiểu thuyết tiêu biểu.

Nam Cao

Nam Cao (1915–1951) được xem là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán giai đoạn 1930–1945. Ông viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa và Sống mòn là các tác phẩm được nhắc nhiều nhất.

Vũ Trọng Phụng

Vũ Trọng Phụng (1912–1939) được mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc. Ông viết tiểu thuyết trào phúng và phóng sự. Số đỏ, Giông tố, Cơm thầy cơm cô và Kỹ nghệ lấy Tây là các tác phẩm tiêu biểu.

Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố (1894–1954) là nhà văn hiện thực xuất sắc, mô tả đời sống nông thôn trước Cách mạng. Ông viết tiểu thuyết và phóng sự.Tắt đèn, Việc làng và Lều chõng là ba tác phẩm đại diện.

Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân (1910–1987) là bậc thầy tùy bút và nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt. Ông cũng viết truyện ngắn. Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua và Người lái đò sông Đà cho thấy rõ lối viết của ông.

Tác giả văn học 1945–1975 thời kỳ kháng chiến

Giai đoạn 1945–1975 có bảy tác giả, nhiều người gắn với văn học kháng chiến, tức dòng văn học viết trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Một số người đã bắt đầu viết trước 1945, số khác còn sáng tác sau 1975. Khi đọc danh sách nhà văn Việt Nam nổi tiếng của mục này, nên hiểu mốc giai đoạn là nơi họ để lại dấu ấn rõ nhất.

Hình minh họa văn học kháng chiến với thơ Tố Hữu, Chính Hữu và Quang Dũng
Tố Hữu, Quang Dũng, Chính Hữu, Kim Lân và Nguyễn Thi ghi lại đời sống và tinh thần thời kháng chiến.

Tố Hữu

Tố Hữu (1920–2002) được xem là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng và kháng chiến Việt Nam. Thơ ông thuộc dòng trữ tình chính trị. Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng và Ra trận là các tập thơ tiêu biểu.

Tô Hoài

Tô Hoài (1920–2014) là nhà văn Việt Nam nổi tiếng với truyện thiếu nhi và văn xuôi đương đại. Ông cũng viết ký và hồi ký. Dế Mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc và Cát bụi chân ai là những tác phẩm đại diện.

Kim Lân

Kim Lân (1920–2007) chuyên viết truyện ngắn về phong tục và làng quê Bắc Bộ. Truyện của ông thiên về hiện thực đời sống nông thôn. Làng, Vợ nhặt và Con chó xấu xí là ba tác phẩm tiêu biểu.

Quang Dũng

Quang Dũng (1921–1988) là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, mang chất hào hoa lãng mạn. Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây và Đôi bờ là các tác phẩm được nhắc nhiều.

Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu (1930–1989) viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Ông được xem là người mở đường tinh anh cho văn học đổi mới sau 1975. Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa là các tác phẩm tiêu biểu.

Nguyễn Thi

Nguyễn Thi (1925–1968) là cây bút tiêu biểu viết về con người Nam Bộ thời chống Mỹ. Ông viết truyện ngắn và ký chiến tranh. Người mẹ cầm súng và Những đứa con trong gia đình là hai tác phẩm đại diện.

Chính Hữu

Chính Hữu (1926–2007) nổi bật với ngôn ngữ thơ cô đọng, chủ yếu viết về đề tài người lính trong thơ kháng chiến. Đồng chí, Đầu súng trăng treo và Ngọn đèn đứng gác là các bài thơ tiêu biểu.

Tác giả văn học sau 1975 và thời kỳ Đổi mới

Với góc nhìn nhà văn Việt Nam nổi tiếng qua các thời kỳ, giai đoạn sau 1975 là lúc đề tài, giọng điệu và thể loại mở rộng rõ rệt. Văn học Đổi mới là cách gọi chung cho những chuyển biến ấy, nên không thể xếp mọi tác giả vào cùng một xu hướng. Tám cây bút dưới đây đại diện cho nhóm nhà văn Việt Nam nổi tiếng của giai đoạn này.

Hình minh họa các tác giả văn học sau 1975 và thời kỳ Đổi mới
Từ Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đến Nguyễn Ngọc Tư, văn học sau 1975 mở rộng đề tài và cách kể.

Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh (1942–1988) có sáng tác từ trước 1975. Bà được xếp ở đây vì các tập thơ có sức ảnh hưởng lớn nhất vào cuối thập niên 1970 và thập niên 1980. Bà là gương mặt tiêu biểu của thơ tình và thơ nữ Việt Nam hiện đại, với Tơ tằm chồi biếc, Hoa dọc chiến hào và Tự hát.

Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ (1948–1988) cũng có sáng tác thời kháng chiến. Ông được xếp ở giai đoạn này vì kịch nói của ông tạo thành hiện tượng sân khấu thập niên 1980. Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta và Lời thề thứ 9 là các kịch bản tiêu biểu. Ông cũng làm thơ.

Bảo Ninh

Bảo Ninh sinh năm 1952, viết tiểu thuyết và truyện ngắn. Nỗi buồn chiến tranh của ông nhận giải thưởng The Sim Hun của Hàn Quốc năm 2018. Khắc dấu mạn thuyền là tác phẩm tiêu biểu khác của ông.

Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, viết truyện ngắn và tản văn. Bà nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2008 và giải LiBeraturpreis của Đức năm 2018. Cánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy và Cố định một đám mây là các tác phẩm đại diện.

Nguyễn Nhật Ánh

Nguyễn Nhật Ánh sinh năm 1955, chuyên viết truyện dài về tuổi thơ và truyện thiếu nhi. Ông nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2010. Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Mắt biếc là các tác phẩm tiêu biểu.

Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Huy Thiệp (1950–2021) là hiện tượng văn xuôi đổi mới thập niên 1980. Ông viết truyện ngắn theo hướng hiện thực huyền ảo. Tướng về hưu, Muối của rừng và Không có vua là các truyện tiêu biểu.

Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng sinh năm 1936, nhận giải thưởng Nhà nước. Ông là cây bút tiểu thuyết thế sự nổi bật sau 1975, viết về tâm lý xã hội. Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới không có giấy giá thú là hai tác phẩm đại diện.

Dương Thu Hương

Dương Thu Hương sinh năm 1947, là nhà văn Việt Nam nổi tiếng có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài. Bài này chỉ nói về phạm vi tác phẩm văn học của bà. Bên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù và Chốn vắng là các tiểu thuyết hiện thực xã hội tiêu biểu.

Cách nhận diện phong cách nghệ thuật của tác giả văn học

Có thể nhận diện phong cách một tác giả bằng bốn bước đọc theo thứ tự: đề tài, hình tượng, giọng điệu và ngôn ngữ. Dưới góc nhìn của tác giả văn học, bốn yếu tố này cùng chỉ ra điều làm một người viết khác với người còn lại.

Đề tài là thứ mỗi nhà văn Việt Nam nổi tiếng quay lại nhiều lần. Kim Lân viết về làng quê Bắc Bộ và phong tục, Chính Hữu viết về người lính. Hình tượng là cách đề tài hiện ra qua nhân vật hoặc hình ảnh, chẳng hạn người nông dân trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố hay người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng.

Giọng điệu là thái độ của nhà văn Việt Nam nổi tiếng khi viết. Vũ Trọng Phụng trào phúng, Thạch Lam trữ tình, Xuân Diệu nồng nhiệt. Ngôn ngữ là lớp cuối cùng, như tùy bút giàu chữ nghĩa của Nguyễn Tuân hay thơ cô đọng của Chính Hữu.

Một mẹo nhỏ là đọc cùng lúc hai tác giả cùng đề tài rồi so sánh bốn yếu tố trên. Cách này giúp thấy rõ nét riêng mà không cần tra cứu thêm. Khi quay lại bảng ở đầu bài, mỗi cái tên trong danh sách nhà văn Việt Nam nổi tiếng sẽ gắn với một phong cách cụ thể thay vì chỉ là một dòng dữ liệu.

Ba mươi cái tên trong bài trải dài từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Ngọc Tư, cho thấy văn học Việt Nam phong phú về giọng điệu và thể loại qua từng thời kỳ. Bạn có thể chọn một tác giả hợp gu, đọc một tác phẩm đại diện rồi áp dụng bốn bước nhận diện phong cách để hiểu sâu hơn. Văn học sẽ tiếp tục bổ sung chân dung và phân tích cho từng người, và đây là điểm khởi đầu để tra cứu nhà văn Việt Nam nổi tiếng.